Chia sẻ

Diễn Đàn Đạo Phật Thiền tông lần 4

Ngày đăng: 13-10-2018

Những người trình bày lần này là Phật gia Châu Văn Hòa, cư ngụ tại Cà Mau và Phật gia Nguyễn Thị Hải Yến, cư ngụ tại Australia (Úc)


Thưa quý độc giả,

Ngày 7-10-2018 vừa qua, tại Tổ Đình chùa Thiền tông Tân Diệu, 273 ấp Chánh Hội, xã Tân Mỹ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An, đã tổ chức Diễn Đàn Đạo Phật thiền tông – chia sẻ Văn Thơ Kệ xuất phát từ tánh Phật thanh tịnh của chính người trình bày.
Những người trình bày lần này là Phật gia Châu Văn Hòa, cư ngụ tại Cà Mau và Phật gia Nguyễn Thị Hải Yến, cư ngụ tại Australia (Úc).
Trong Diễn Đàn, Phật gia Châu Văn Hòa đã trình bày bài văn, nói lên sự khoa học của đạo Phật. Kế đến, Phật gia Nguyễn Thị Hải Yến cũng trình bày bài thơ: “Khuyên mẹ tu Thiền tông”, bày tỏ sự hiếu thảo của mình đối với bậc cha mẹ. 
Trước đó, Ban quản trị Tổ đình chùa Thiền tông Tân Diệu cũng phần lưu ý đến những người trình bày Văn – Thơ – Kệ trong các Diễn Đàn tổ chức tại chùa Thiền tông Tân Diệu, đó là:
– Người trình bày Văn – Thơ – Kệ phải tuân thủ theo luật Tự do Tôn Giáo – Tự do Tín Ngưỡng của nước CHXHCN Việt Nam. Nghĩa là, không chê các pháp môn khác, không xen vào Tín ngưỡng của người khác, ai tin gì là quyền tự do của mỗi người, v.v…
Phần cuối chương trình là phần trích đọc những điều qui định trong Bộ Luật Hình Sự của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, nhằm nhắc nhở cũng như răn đe cho những ai trong và ngoài Diễn Đàn vô tình hay cố ý vi phạm đến quyền Tự Do Tôn Giáo – Tự Do Tín Ngưỡng của người khác, sẽ phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Ban quản trị chúng tôi xin chia sẻ nguyên văn toàn bộ Video trong buổi lễ trên ở bên dưới đây.
Xin mời quý vị đón xem ở dưới:

Bài viết của Phật gia Châu Văn Hòa tham gia diễn đàn 4

ĐẠO PHẬT THIỀN TÔNG

******
Nam Mô Giáo Chủ Ta Bà Đức Phật Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật
Con tên: Châu Văn Hòa, sinh năm: 1982
Tại TP. Cà Mau, cư ngụ tại Cà Mau.
 
Hôm nay con kính trình Ban Diễn Đàn Đạo Phật Thiền Tông, chùa Thiền tông Tân Diệu. 
 
Trước khi đọc nội dung bài diễn đàn con xin nói sơ lược về bản thân của con đi tầm đạo Phật như sau:
 
Trước khi con gặp pháp môn Thiền Tông con đi rất nhiều ngôi chùa để học đạo và hành đạo, đến chùa con thấy quý Thầy, sư cô hành đạo như sau:
 
1. Trước Tam Bảo là thùng công đức để Phật tử cúng dường tạo công đức.
2. Là tụng kinh gõ mõ
3. Cầu siêu, cầu an cho người chết được siêu thoát.
4. Xin xăm, xem quẻ.
5. Niệm Phật được vãng sanh về cõi Phật A Di Đà.
6. Niệm Chú, để có thần thông v.v..
 
Con thấy, con nghe các quý sư thầy, sư cô hành đạo Phật như vậy, con cũng hành đạo theo, nhưng kết quả đem đến cho con không thấy được giác ngộ chứ đừng nói đến hai chữ giải thoát và con quyết định nghỉ đi chùa hành đạo. Con ở nhà dành thời gian lên mạng xã hội tìm hiểu thêm đạo Phật, lướt nhiều trang mạng con thấy được ngôi chùa Thiền tông Tân Diệu, những người hành đạo ở ngôi chùa này rất lạ, người mặc áo nâu cổ đeo dây màu vàng, người mặc áo lam đeo dây đỏ và xanh. Con thấy rất kỳ lạ, khác hẳn hơn các ngôi chùa con đã đi tầm đạo. Con quyết định tìm hiểu ngôi chùa này thực hư ra sao và đã đi đến ngôi chùa này, khi đi đến cổng chùa con nhìn lên bảng hiệu chùa ghi rõ: “Chùa Thiền Tông Tân Diệu - Chuyên dạy giải thoát”. Con rất vui mừng và đi thẳng vào chánh điện của chùa ở đây khác hẳn các ngôi chùa con đi trước kia như: Không có thùng công đức để trước Tam Bảo, không tụng kinh, gõ mõ, không cầu siêu, cầu an, không xin xăm, xem quẻ v.v…. Chỉ có dạy giác ngộ và giải thoát ra ngoài sinh tử luân hồi. Và con đã quyết định hành đạo một lần nữa. Và kết quả không thể nghĩ bàn, con được truyền bí mật Thiền Tông vào ngày 25/3/2018 nhằm ngày 9/3 năm Mậu Tuất.
 
Sau khi được truyền bí mật Thiền Tông, con thường xuyên lên mạng xã hội theo dõi các hoạt động của chùa Thiền Tông Tân Diệu, con đã nghe thấy những lời nói xấu về ngôi chùa Thiền Tông Tân Diệu là tà đạo và quyển sách  Huyền Ký của Đức Phật truyền theo dòng Thiền Tông là bịa đặc ra. Đó là các quý sư thầy có tiếng ở quận 10 - TP.HCM; quận 12 - TP.HCM; huyện Bình Chánh - TP.HCM; thậm chí có một cô Phật tử ở Quảng Ninh miền Bắc Việt Nam nữa, vân vân.
 
Hôm nay, con đứng trước chánh điện chùa Thiền Tông Tân Diệu này, con là một nhân chứng sống nói lên pháp môn Thiền Tông học này, nếu con người hành đúng theo lời Đức Phật Thích Ca Mâu Ni truyền theo dòng Thiền Tông theo Huyền Ký của Đức Phật  thì từ con người phàm phu như con đây sẽ trở thành một người giác ngộ trí tuệ, thông qua bài diễn đàn này, con xin mời tất cả các Quý sư thầy, cô nêu trên cùng tất cả các vị có mặt tại Chánh điện chùa Thiền Tông hôm nay cùng để tâm thanh tịnh lắng nghe con đọc nội dung bài tham dự diễn đàn đạo Phật Thiền Tông như vầy:
 
Mặc dù được truyền bí mật Thiền tông nhưng con lúc nào cũng nghe đi nghe lại đĩa kinh của thầy giảng không bỏ sót 1 quyển sách nào. Với lòng nhiệt huyết tu tập cao con có tìm hiểu qua khoa học vũ trụ vì bộ sách Thiền tông nói khoa học là chân thật. Sau khi tìm hiểu 1 thời gian dài, thật bất ngờ Thiền Tông và khoa học vũ trụ kết hợp lại con mới hiểu được thêm tất cả những ẩn ý sâu mầu của Đức Phật Thích Ca từ cạn đến sâu mầu nhất, con đã nhìn ra được: “(1) Gốc của con người từ đâu mà có. (2) Gốc của càn khôn vũ trụ (Điểm khởi đầu của càn khôn). (3) Gốc của pháp môn Thiền Tông.
 
Thứ nhất con xin trình bày nội dung (1):
 
Về khoa học vũ trụ trái đất của chúng ta ở thể rắn, lỏng, khí và điện từ âm dương, Thiền Tông thân tứ đại là đất, nước, gió, lửa và điện từ âm dương. Lời Đức Phật Thích Ca trong tất cả 6 pháp môn ngài luôn luôn dùng có 2 từ chữ “VẬT LÝ” vừa chỉ thẳng và cũng dùng ẩn ý sâu mầu, đừng để cho cái thấy chồng thêm thấy, trong quyển sách “Huyền Ký Đức Phật truyền theo dòng thiền tông” (tức số quyển 10). Ông Tỳ Kheo Trường An Thịnh hỏi Đức Phật. Cái ban đầu của Càn Khôn vũ trụ, con người và vạn vật như thế nào?
Đức Phật day: “Khi Như Lai toàn giác có đủ ngũ nhãn Như Lai sử dụng Phật nhã để quan sát:
 
1. Biên giới của Càn Khôn vũ trụ đến đâu, nhưng Như Lai  nhìn mãi cũng không thấy biên giới của càn khôn vũ trụ, nên Như Lai thấy và biết như sau: “Vũ trụ không biên giới”.
 
2. Như Lai sử dụng Phật nhãn để tìm con người đầu tiên, Như Lai cứ nhìn và tìm mãi mà cũng không thấy được con người ban đầu, nên Như Lai thấy con người và vạn vật là “VÔ THỦY”, 16 thứ tánh con người được bọc trong 1 vỏ bọc gọi là nguyên tử. Như vậy, mỗi 1 tánh người là 1 chất hóa học độc hại, nên Đức Phật Thích Ca nhắc nhở chúng ta đừng để cho nó kết hợp lại với nhau.
 
Tóm lại thế giới cõi Ta Bà của chúng ta không có con người, con người là 16 chất hóa học độc hại, ví dụ: 2 chất hóa học khí Hidro + Ôxi= Nước  (H + O2 = nước), Trong tánh người Tưởng + Tham = Ác. 
 
Đó là Đức Phật dùng 2 từ vật lý để ẩn dụ cho chúng ta biết thế giới vật lý này cuốn hút rất mạnh để chúng ta biết đừng dính mắc. Hình thành 1 con người, trong bể tánh thanh tịnh Phật tánh lúc nào cũng hành nhưng hành trong cái thanh tịnh, tuy là thanh tịnh nhưng hằng ngày, hằng thấy, hằng nghe, hằng biết. Do đó Như Lai nói ghép lại trí tuệ Bát Nhã Ba La Mật, tức cái thấy cái nghe cái biết ở trong tự nhiên thanh tịnh, cái thanh tịnh này nó trùm khắp, còn thấy, nghe, biết, pháp, nó nằm trong tánh nên Như Lai gọi chung là Phật tánh, còn ở tại bờ ngăn cách có 1 màn trong suốt giống như là 1 tấm kiếng trong suốt để ngăn giữa bể tánh thanh tịnh Phật tánh bên trong, còn bên ngoài tam giới là sức hút khủng khiếp của vật lý âm dương gồm 16 căn bản như: Thọ, Tưởng, Hành, Thức, Tài, Sắc, Danh, Thực, Thùy, Tham, Sân, Si, Mạn, Nghi, Ác, Kiến.
 
Khi 16 thứ tánh trên nhuộm hết tánh thấy, tánh nghe, tánh biết, tánh pháp, các tánh ấy bị nhuộm lại nên tự nhiên thành ra chấp. Bắt đầu là chấp có ngã, vì ngã này mà sanh ra nhơn, rồi sanh ra “CHÚNG SANH” và sau cùng là thọ giả.
 
Khi các tánh đã vào trong thế giới loài người rồi, tất cả các thứ trên, sanh ra 8 muôn 4 ngàn thứ trần lao.
 
Tóm lại cõi Ta Bà chỉ là ảo, tất cả đều không thật, chỉ có tánh Phật mượn thân tứ đại, cõi Ta Bà để trở thành 1 vị Phật nên kết nhân duyên tạo phước và nghiệp mà thôi.
 
Đức Phật Thích Ca nói sống thế giới Ta Bà phải biết từng xác na sinh diệt của vi trần, lớn hơn hành tinh, nhỏ nhất là nguyên tử, điện tử…. Về sinh diệt các hành tinh trái đất của chúng ta các khoa học gia vũ trụ nhìn những bụi không gian đã xác nhận trái đất của chúng ta rất lâu xa ngược thời gian có 1 vụ nổ lớn, họ gọi đó là vụ nổ “Big Ben”. Nguyên nhân vụ nổ thì họ không biết tại sao, còn Thiền Tông Pháp của Đức Phật thì giải thích được tại sao trái đất bị nổ là do con người có lòng tham đưa đến hủy diệt trái đất, nguyên tử là 1 chất khí có hình dạng, nhưng thể thì không. Điện khi con người văn minh lên cao họ dùng điện chế tạo ra muôn hình dạng trạng như máy bay, tủ lạnh, quạt gió v.v… vì nó hình thành bằng diện từ âm dương cũng như con người và vạn vật nên theo qui luật chung là thành trụ, hoại, diệt hết. Đó là con trình bày gốc của con người.
 
2. Càn khôn vũ trụ (Điểm khởi đầu của càn khôn).
 
Bản thể vũ trụ là vạn hữu
- Bản thể: Gốc tủy
- Vạn hữu: Từ không tới có, từ có tới không.
 
* Về khoa học vũ trụ:
     Càn khôn vũ trụ khởi đầu nó chỉ là chùm tia lửa phóng tỏa ra với vận tốc xoáy hình trôn ốc, có 1 hành tinh rất lớn nằm ở trung tâm hệ mặt trời chiếm khoảng 99,86% khối lượng hệ mặt trời có 12 chất khí gồm hydro, Heli, Fe, Nikel, Oxy, Silic, Lưu huỳnh, Magie, Cacbon, Neon, Canxi và Crom. Hành tinh vẫn đứng yên và quay với vận tốc cao do điện từ âm dương từ trung tâm đẩy ra ngoài là dương, từ ngoài xoáy vào trong là âm. Mặt trời có quang phổ có nghĩa là nhiệt độ bề mặt 5.505 độ C. Quang phổ mặt trời có chứa các vạch ion hóa và kim loại trung tính cũng như các đường Hydro rất yếu.  Trong lớp quang phổ là ngôi sao thuộc dãy chính. Nghĩa là nó tạo ra năng lượng bằng tổng hợp hạt nhân của hạt nhân Hydro thành heli trong đó các chất bị ion hóa mạnh. Đại bộ phận phân tử hay nguyên tử chỉ còn lại là hạt nhân ác electron chuyển động tương đối tự do giữa các hạt. 99% vật chất thấy được trong vũ trụ tồn tại dưới dạng Plasma, trong 4 trạng thái vật chất, Plasma được xem như trạng thái đầu tiên trong vũ trụ. Nếu sự ion hóa được xảy ra bởi việc nhận năng lượng từ các bức xạ điện, điện từ thì Plasma còn gọi là Plasma nguội. Đối với hiện tượng phóng điện trong chất khí các electron bắn từ caction ra làm ion hóa 1 số phân tử trung hòa, các electron mới bị tách ra chuyển động trong điện trường và tiếp tục làm ion hóa các phân tử khác. Do hiện tượng ion hóa mang tính dây chuyền, số đông các phân tử trong chất khí bị ion hóa, và chất khí chuyển sang trạng thái Plasma. Thành phần cấu tạo loại Plasma này có các ion dương, ion âm, electron và các phân tử trung hòa.
 
     Nếu sự ion hóa xảy ra do va chạm nhiệt giữa các phân tử hay nguyên tử ở nhiệt độ cao thì Plasma còn gọi là Plasma nóng. Khi nhiệt độ tăng dần, các electron bị tách ra khỏi nguyên tử, và ion hóa ở nhiệt độ rất cao các nguyên tử bị ion hóa tốt độ chỉ còn các hạt nhân. Các khối Plasma có điện tích chuyển động nhưng toàn khối vẫn đứng yên, dễ thấy nhất là mặt trời, các ngôi sao. Plasma không những có tính linh động rất mạnh, nó lại có thể dẫn điện như kim loại. trong vũ trụ, thế lực của chúng rất to lớn, khoảng 99,9% vật chất trong toàn vũ trụ đều ở vào trạng thái Plasma (là trạng thái thứ tư của vật chất, các sao, thiên thạch, tiểu hành tinh, Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ). Các khoa học gia đã khám phá ra thiên thạch dưới dạng H3 nó là kim cương kho tàng vô giá ở vũ trụ, còn những  hành tinh Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ là những hành tinh không có sự sống. 
 
* Về Thiền Tông (Điểm khởi đầu của càn khôn vũ trụ)
Mặt trời là hành tinh tạo sự sống cho 45 hành tinh, nằm trong 4 vòng hoàn đạo.
 
- Thân tứ đại
- Cõi Trời Dục giới.
- Cõi Trời Hữu sắc.
- Cõi Trời Vô sắc.
 
Do điện từ âm dương luân chuyển và cuốn hút đi. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ngài thấy vũ trụ này thật là vô biên nhưng lại tuyệt đối vô trụ, vận hành hết sức trật tự, ngài thấy và biết rõ từng hành tinh trong vũ trụ bao la mênh mông này rất nhiều, rất nhiều không thể đếm hết được. Một thái dương hệ mặt trời, một mặt trăng và nhiều hành tinh và vô số hành tinh nhỏ gọi là ngôi sao (có nhiều thái dương hệ, có nhiều mặt trăng) ví cái tinh hoa bất nhị của pháp môn Thiền Tông học, hay nói rõ hơn đạo Thiền Tông học Phật giáo, giảng trạch được phơi bày ra tất cả về nhân sinh quan, vũ trụ quan sâu thẩm, trùm khắp và vận hành của Càn khôn vũ trụ này, vì cái lớn lao khủng khiếp, cái tinh hoa đạo Phật, Thiền Tông bất nhị và chứng minh hết sức khoa học, thực tế, vận hành không sai sót rất trật tự trong càn khôn vũ trụ này, nhân quả chi phối tất cả vạn vật trong không gian cũng như thời gian. Đây là nhất nguyên mà Phật muốn nói đến khởi đầu của càn khôn vũ trụ (nhất nguyên là chân thật).
 
Đa nguyên không thật, tức là nói về Tam Thiên, đại thiên thế giới và 6 nẻo luân hồi tánh Phật kết nhân duyên, tạo nhân quả nên phải theo qui luật âm dương, thành trụ hoại diệt nên không thật.
 
Cái đặc biệt của Thiền Tông này quá vi diệu thâm thâm, không thể nghĩ bàn. Khoa học giảng trạch được, phơi bày được các hành tinh, thì Thiền Tông chỉ nói khái quát những điểm chính yếu thôi (điển hình mặt trời). Còn khoa học không giảng trạch được thì Thiền Tông phơi bày ra sự thật (vụ nổ của trái đất, hố đen vũ trụ).
 
Tóm lại sự học hỏi trong giới trí thức, sự hiểu biết của họ giống như một nhóm cát nhỏ trong bàn tay, còn sự chỉ dạy của Đức Phật quá ư là lớn lao, như vạn vật trên địa cầu này vậy.
 
3. Pháp môn Thiền Tông.
 
Hôm nay tại nơi mặt bằng rộng lớn trên núi Linh Sơn này, Như Lai chánh thức truyền Thiền thanh tịnh cho ông Ma Ha Ca diếp, để nối tiếp Như Lai dạy pháp môn thanh tịnh thiền này, Như Lai nói rõ cho các ông, bà biết: dòng của mạch nguồn Thiền Thanh Tịnh này, nay đã bắt đầu rồi đó, và dòng chảy của nguồn Thiền Thanh Tịnh ở nước này chỉ có 28 đời tổ thôi. sau sẽ đến nước lớn ở phương Đông, có thêm 5 đời Tổ nữa, sau đó chảy đến đất Rồng thêm được 3 đời Tổ nữa, rồi Mạch nguồn thiền Thanh tịnh này sẽ ẩn.
 
Đến đời Mạt Thượng pháp, ở tại đất Rồng, có một vị nhận được dòng chảy của Mạch nguồn thiền Thanh tịnh này, và cũng từ đây, Nguồn thiền Thanh tịnh sẽ được người có tâm lớn cho chảy đi khắp Năm châu.
 
     Đức Phật lại dạy tiếp:
 
– Này ông Ma Ha Ca Diếp, nguồn thiền Thanh tịnh này, ông đừng cho đoạn dứt, khi ông lìa bỏ thế giới này, ông hãy truyền lại cho ông A Nan Đà, nối tiếp ông làm Tổ sư thiền đời thứ 2; cũng từ đời ông A Nan Đà trở về sau phải gọi là Thiền tông.
 
Vì sao phải gọi đổi tên hiệu như vậy?
 
– Vì pháp môn Thanh tịnh thiền này, nếu gọi như tên cũ thì không đúng lắm.
 
Vì sao vậy?
 
– Vì pháp môn tu thiền này, nó không được phép ghi vào trong các kinh của Như Lai dạy; mà nó phải chảy riêng theo dòng thiền của nó, chỉ có những vị có nhiệm vụ dẫn mạch nguồn thiền này mới được phép nắm giữ văn kệ Huyền ký của Như Lai thôi. Như vậy, phải gọi là Thiền tông, tức pháp môn thiền học này có tông và dòng riêng của nó.
 
Như Lai có Huyền ký cho vị Tổ thứ 33 biết: Đến đời vị Tổ này, pháp môn Thiền tông, chỉ dạy một phần nhỏ thôi, khi vị đó gần diệt độ, vị đó phải cho phép vị đệ tử nào ưu tú nhất, công bố pháp môn Thiền tông học này ra, để những người có mặt vào đời Mạt Thượng pháp họ nhận được và công bố đi khắp Năm châu.
 
Đây là ẩn ý sâu mầu nhứt mà Đức Phật Thích Ca vừa chỉ thẳng vừa ẩn dụ. Sống với thế giới Ta Bà dù là Phật cũng không tránh được và cũng không độ được Ngài. A Nan Đà là vị tổ thứ 2 Thiền tông. Người có công ghi chép lại tất cả các lời nói của Đức Phật vì muốn cho thế giới Ta Bà này hiểu pháp lý nhà thiền nên ngài phải dùng tiếng nói của nhân gian cho A Nan Đà ghi chép lại, để mọi người dễ hiểu mà tu. Ngài A Nan Đà có công rất lớn với Thiền Tông, lại là người được rơi vào bể tánh thanh tịnh Phật tánh. Thế mà trong kinh “Diệu Pháp Liên Hoa” phẩm tựa thứ nhất:
 
“1.Tôi nghe như thế này: Một thuở nọ Đức Phật (2) ở trong núi Kỳ Xà Quật, nơi thành Vương Xá, cùng chúng đại Tỳ-kheo một muôn hai nghìn người câu hội. Các vị đó đều là bậc A La Hán, các lậu (3) đã hết, không còn phiền não, việc lợi mình đã xong (4) dứt sự ràng rịt trong các cõi (5) tâm được tự tại. Tên của các vị đó là: A Nhã Kiều Trần Như, Ma - Ha Ca Diếp, Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp, Dà Gia Ca Diếp, Na Đề Ca Diếp, Xá Lợi Phất, Đại Mục Kiền Liên, Ma Ha Ca Chiên Diên, A Nậu Lâu Đà, Kiếp Tân Na, Kiều Phạm Ba Đề, Ly Bà Đa, Tất Lăng Già Bà Ta Bạc Câu La, Ma - Ha Câu Si La, Nan Đà, Tôn Đà La Nan Đà, Phú Lâu Na Di Đa La Ni Tử, Tu Bồ Đề, A Nan, La Hầu La v.v... đó là những vị đại A La Hán hàng tri thức của chúng”.
Ngài chỉ ở bậc A La Hán chớ không thành Phật được trích kinh Diệu Pháp Liên Hoa. Như vậy cho ta thấy qui luật nhân quả vật lý âm dương rất mạnh, không thể nghĩ bàn, Phật cũng không độ được ai.
 
Phật bảo đến đời Mạt thượng pháp loài người văn minh lên cao có thể chinh phục không gian thì pháp môn này bùng ra ở đất Rồng. Nguồn gốc pháp môn Thiền Tông này là ở 10 phương cõi Phật. Chinh phục không gian chỉ thẳng 10 phương cõi Phật.
 
KẾT LUẬN:
 
1. Những điểm chính yếu của pháp môn thanh tịnh thiền này mà Đức Phật Thích Ca để lại cho hậu thế thật là vi diệu thậm thâm.
 
Cái hay nhất của Pháp môn Thiền Tông là khi các khoa học gia trình bày, tường tận từng các hành tinh 1 cách tỉ mĩ, thì Thiền Tông Đức Phật chỉ nói tổng quát những điểm chính yếu mà thôi. (Thí dụ: Mặt trời, điểm khởi đầu của càn khôn vũ trụ).
 
Khi các khoa học gia bế tắc thì Đức Phật Thích Ca trình bày 1 cách tỷ mỉ, tường tận.
 
Về khoa học, 5 hành tinh: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ không có sự sống.
 
Về Thiền Tông: 5 hành tinh trên làm để làm vật tư.
 
Về Khoa học: Hố đen vũ trụ, không có kết quả.
 
Về Thiền Tông: Hố đen là sự hình thành ra 1 hành tinh mới (khi hành tinh bị phá vỡ)
 
Khi kết hợp lại giữa khoa học và Thiền Tông thì nó trọn vẹn đầy đủ không thể nghĩ, bàn, tuyệt hảo (3 lần).
 
2. Bất lập văn tự: giáo ngoại biệt truyền.
Phần trí yếu của pháp môn Thiền Tông học này. Đức Phật không cho viết ra thành văn, nên gọi là Bất lập văn tự vì pháp môn này không viết ra văn, nên không truyền theo kinh điển bình thường được, nên gọi là giáo ngoại biệt truyền, đây là ẩn ý. Ngài chỉ thẳng ý trong tánh Phật phải thanh tịnh thì tu mới về Phật giới được (Từ phàm phu tới Phật). Phật là vô thủy không có cái ban đầu, cũng không có cuối nó là chân như ở khắp mọi nơi, nó là như vậy chỉ thế thôi, tất cả mọi người ai cũng đều có Phật tánh cả. Phật nhắc nhở chúng ta không theo vết chân của Phật như 5 pháp môn có chứng có đắc có thành tựu trong vật lý nên phải luân hồi hết, chỉ có trực nhận được Phật ánh của chính mình thì mới giải thoát được, đây chính là người vô tu vô chứng. Ngài A Nan Đà chỉ dùng văn tự ghi lại pháp môn Thiền Tông do nhân duyên kết nối nên theo quy luật nhân duyên cũng không thể giải thoát được.
 
3. Thân và tâm là duyên hợp để hình thành ra 1 con người, để cho tánh người nương vào đó, con người hoạt động được là nhờ tánh Phật ẩn trong đó thì mới hoạt động được.
 
4. Pháp môn thiền tông là pháp môn cực dương tức cực mạnh, nó phá đi tất cả tiền, tài, danh, lợi và địa vị.
 
5. Người tu theo đạo Như Lai mà không biết pháp môn thanh tịnh Thiền tức Thiền Tông thì họ không vào sống với 10 phương chư Phật được.
 
Cuối cùng con xin đọc bài kệ 20 câu để tri ân đến 10 phương chư Phật bài như sau: 
 
Phật là đấng tối cao giác ngộ
Lập đạo thiền tế độ chúng sanh
Trần gian biết nẻo tu thiền
Nhờ người dẫn lộ chỉ rành nẻo tu
Rơi vào bể tánh để chi?
Nhìn ra sự thật để tu đúng đường
Càn khôn, vũ trụ Ta Bà
Mỗi thứ phân biệt rõ ràng mà tu
Đây là lời dạy thích ca
25 thế kỷ bùng ra đất Rồng
Truyền đi khắp chốn 5 châu
Giúp người giác ngộ trọn phần thiền tông
Tu thiền phải biết cội nguồn
Thì ta mới biết quê xưa cội nguồn
Cội nguồn thiền ở 10 phương
10 phương cõi Phật Niết Bàn vô sanh
Ta Bà vòng xoáy âm dương
Rơi vào thì khó tầm đường mà ra
Chánh tà nay đã rõ phân
Lời Phật hành đúng thì không luân hồi.
 
Trên đây là toàn văn và kệ bài diễn đàn của con vừa trình bày xong. Xin trân trọng cảm ơn quý vị lắng nghe. Xin hết.
 
Con Châu Văn Hòa
 
Con kính chào Ban Diễn Đàn!