Chia sẻ

Ăn uống cân bằng Âm – Dương Phần 1

Ngày đăng: 04-10-2018

Giúp cho những vị muốn tự mình làm thầy để trị bệnh cho chính mình, được ít bệnh.


Lời nói đầu
 
Kính thưa độc giả:
 
Chúng tôi viết ra quyển cẩm nang ăn uống này, là để dành riêng cho hai hạng người:
 
Một: Những vị tu theo pháp môn Thiền tông Nhà Phật, để cảm nhận được sự an vui kỳ diệu của pháp môn Thiền tông học này.
 
Hai: Giúp cho những vị muốn tự mình làm thầy để trị bệnh cho chính mình, được ít bệnh.
 
Trước hết, chúng tôi xin có lời khuyên dành riêng cho những vị muốn tu theo pháp môn Thiền tông học Nhà Phật:
 
– Đầu tiên, quí vị muốn tu theo pháp môn Thiền tông học Nhà Phật, quí vị phải hiểu 4 câu tuyệt bí ẩn mà Đức Phật đã dạy trong pháp môn Thiền tông học này:
 
Câu 1: Bất lập văn tự.
Câu 2: Giáo ngoại biệt truyền.
Câu 3: Trực nhận chân Tánh.
Câu 4: Kiến tánh thành Phật!
 
Chúng tôi xin nói khái quát về 4 câu nêu trên:
 
1- Bất lập văn tự:
Vì sao không lập văn tự.
Vì văn tự mà loài người đang sử dụng, là văn tự của nhân duyên, nên không nói đến chỗ chân thật được.
 
2- Giáo ngoại biệt truyền:
Giáo ngoại biệt truyền là sao?
Là pháp môn tu này phải truyền ngoài các kinh điển thông thường.
 
3- Trực nhận chân Tánh:
Chân Tánh là gì mà phải trực nhận nó?
Chân Tánh là cái Tánh chân thật của mỗi người, ai muốn tu pháp môn này phải hiểu cho thật rõ về chân Tánh của mình thì mới tu đúng được.
 
4- Kiến Tánh thành Phật:
Kiến Tánh là sao?
Hiện nay, có vị giảng kiến Tánh là “nhận định” ra Tánh của chính mình.
Vì sao họ dạy là nhận định?
Vì họ không biết Tánh chân thật của mình, nên tưởng tượng ra để giảng, nên nhiều người đến nghe một thời gian dài mà không ai hiểu được Tánh chân thật của mình, nói theo ngôn từ của thiền học là giác ngộ.
 
Chúng tôi xin gợi ý 4 câu trên:
 
Bốn câu nói trên, nếu quí vị muốn biết thấu đáo, hãy tìm cho được vị nào đã đạt được “Bí mật Thiền tông”, vị đó sẽ giải thích cho.
 
Còn riêng chúng tôi, là người sưu tầm, chỉ giúp cho quí vị hiểu khái quát về 4 câu nói trên thôi.

★ Để quí vị hiểu pháp môn Thiền tông học này, chúng tôi xin kể sơ lược về lịch sử của pháp môn này như sau:

Pháp môn này, đầu tiên Đức Phật gọi là “Thanh tịnh thiền”. Khi Đức Phật truyền pháp môn Thanh tịnh thiền này cho ông Ma Ha Ca Diếp làm Tổ sư thiền Thanh tịnh đời thứ nhất, Đức Phật có dạy như sau:
 
– Này ông Ma Ha Ca Diếp, Như Lai nhờ tu pháp môn Thanh tịnh thiền này mà vào được “Bể tánh Thanh tịnh Phật tánh” của Như Lai. Như Lai truyền Thanh tịnh thiền này cho ông làm Tổ sư thiền đời thứ nhất, khi ông sắp tịch, ông hãy truyền pháp môn này lại cho ông A Nan Đà để làm Tổ sư thiền đời thứ hai, từ Tổ sư thiền đời thứ hai trở đi, phải gọi là Thiền tông.
Vì sao phải gọi là Thiền tông?
Vì pháp môn tu này, Như Lai không dạy theo các kinh điển, mà Như Lai chỉ dạy riêng cho ông; ông truyền cho người kế tiếp, người kế tiếp truyền cho người sau nữa, cho nên gọi là “Thiền tông”, tức pháp môn này truyền riêng “Tông truyền” của nó. Như Lai nói cho ông biết, pháp môn tu này rất khó!
 
Vì sao tu khó như vậy?
 
Vì loài người sống bởi vật lý bao quanh, tức phải chịu sức hút mãnh liệt của vật lý. Vì vậy, một vạn người tu theo pháp môn này, chưa chắc có 1 người đạt được!
 
Vì sao pháp môn tu này lại khó như vậy?
 
Vì tất cả chúng sanh hiện đang sống:
1- Về vật chất, không thể nào rời bỏ nó được!
2- Về tinh thần, thì bị cái ảo giác của vật lý kéo đi!
 
Vì 2 thứ trên, nên khó có người nào vượt qua được. Do vậy, Như Lai phải truyền riêng cho ông, và ông có bổn phận phải truyền riêng pháp môn thiền Thanh tịnh này. Vì quá đặc biệt như vậy, nên Như Lai có nói pháp môn này bằng 4 câu:
 
1- Bất lập văn tự.
2- Giáo ngoại biệt truyền.
3- Trực nhận chân Tánh.
4- Kiến Tánh thành Phật.
 
Đức Phật dạy đại cương về pháp môn Thanh tịnh thiền này rồi. Như Lai có dạy Huyền ký về pháp môn Thiền tông học này như sau:
– Ông là người nhận Tổ vị đời thứ nhất, Tổ vị thứ hai là ông A Nan Đà. Ở nước Ấn Độ này chỉ có 28 đời Tổ sư Thiền tông thôi. Đến đời Tổ sư thứ 28, vị này có bổn phận dẫn “Mạch nguồn Thiền tông” đến nước lớn ở phương Đông. Ở nước lớn này, có thêm 5 đời Tổ sư nữa. Cũng ở đời Tổ sư sau cùng, Mạch nguồn Thiền tông này không được truyền theo qui cách cũ nữa. Mà việc truyền Thiền tông phải dừng tại đây. Còn các tín vật của Như Lai phải như sau:
1- Gói kệ Huyền ký của Như Lai phải được công bố ra.
2- Bát ăn cơm của Như Lai phải được chôn xuống đất.
3- Áo choàng của Như Lai cắt ra làm hai, một phần chôn theo bát ăn cơm của Như Lai, một phần quấn vào tượng của vị Tổ sư Thiền tông đời thứ 33 này.
 
Vị Tổ sư này, phải nhờ đệ tử nào ưu tú của mình, công bố Huyền ký của Như Lai ra cho mọi người cùng biết.
 
Vì sao Huyền ký của Như Lai phải được công bố ra?
 
Vì đến đời Tổ sư Thiền tông này, rất nhiều người giác ngộ được “Yếu chỉ Thiền tông”, còn đạt được “Bí mật Thiền tông” cũng rất nhiều, phần được rơi vào “Bể tánh Thanh tịnh Phật tánh”, cũng không có là bao nhiêu.
 
Tuy vị Tổ sư Thiền tông đời thứ 33 này, công bố Huyền ký của Như Lai ra như vậy, nhưng phải đợi đến đời Mạt thượng pháp, ở tại đất Rồng, có một người sưu tầm viết lại đầy đủ những lời dạy của Như Lai nêu trong Huyền ký. Cũng từ nơi đất Rồng này, được phổ biến đi khắp Năm châu. Nhờ vậy, mà người giác ngộ “Yếu chỉ Thiền tông” không thể nào tính hết được. Người đạt được “Bí mật Thiền tông” cũng rất đông. Còn người được rơi vào “Bê tánh Thanh tịnh Phật tánh”, nhiều nhất, từ khi Như Lai dạy pháp môn Thiền tông học này.
 
Như Lai dạy rõ về truyền Thiền tông như sau:
33 đời Tổ của các ông, truyền cho nhau bằng bài kệ 36 câu mà Như Lai đã đọc để truyền thiền cho ông. Khi ông truyền Thiền tông lại cho ông A Nan Đà, ông phải trao trọn gói Huyền ký này, bát ăn cơm của Như Lai và áo choàng của Như Lai.
 
Còn sau Tổ sư đời thứ 33 trở đi, việc truyền Thiền tông này phải như sau:
 
1- Người nào giác ngộ được căn bản “Yếu chỉ Thiền tông”, được cấp giấy chứng nhận.
 
2- Người nào giải mã được tất cả các lời dạy của Như Lai, người đó được cấp giấy chứng nhận đạt “Bí mật thiền tông”. Người này phải được truyền Thiền tông bằng 36 câu truyền thiền, mà Như Lai đọc truyền cho ông, phải làm lễ trước Tôn tượng của Như Lai. Người này phải được cung cấp đầy đủ những lời dạy của Như Lai về pháp môn Thiền tông học này mà Như Lai có ghi đầy đủ trong Huyền ký.
 
Như Lai dạy rõ cho ông biết, pháp môn Thiền tông học này, Như Lai không sử dụng bất cứ thứ gì trong vật lý nơi thế giới này để dạy.
 
Vì sao vậy?
 
Vì những thứ trong vật lý nơi thế giới này là của nhân duyên và nhân quả. Vì là nhân duyên và nhân quả, nên nó phải đi theo dòng biến chuyển luân hồi. Do vậy, ai muốn tu giải thoát, thì không thể nào sử dụng những thứ trong vật lý này được.

★ Chúng tôi nói đến đây, anh tư Lê Mạnh Quân, sanh năm 1940, tại huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh. Cư ngự tại đường Âu Cơ, quận 11, thành phố Hồ Chí Minh, có hỏi như sau:

 
– Kính anh Nhân, chúng tôi xin hỏi anh 3 câu:
Câu 1: Chúng tôi muốn tu theo Thiền tông, phải tìm hiểu và học với ai cho đúng?
Câu 2: Những vị dạy đạo thiền hiện nay, có vị nào dạy pháp môn Thiền tông học này không?
Câu 3: Chúng tôi thấy hiện nay, có rất nhiều người dạy đạo, họ nói là dạy Thiền tông, vậy chúng tôi phải tìm hiểu như thế nào mới phải?
 
Ba câu hỏi của anh Lê Mạnh Quân tuy đơn giản, nhưng khó trả lời vô cùng, chúng tôi chỉ xin góp ý như sau:
 
– Kính thưa anh Tư, anh muốn tu theo pháp môn Thiền tông học, anh hãy tìm cho được, vị nào đạt “Bí mật Thiền tông”, hỏi vị ấy, thì vị ấy nói cho anh nghe, thì mới đúng được, còn vị nào chưa đạt “Bí mật Thiền tông”, mà nói về pháp môn Thiền tông này, dù có ngồi giảng 100 năm cũng không thể đúng.
 
Vì sao vậy?
 
Vì pháp môn Thiền tông, là pháp môn Đức Phật dạy không sử dụng những thứ trong vật lý. Vị nào biết được nguyên lý này, thì vị đó mới hiểu pháp môn Thiền tông học được.
Còn anh hỏi chúng tôi những vị giảng hiện nay, chúng tôi tìm hiểu và biết có 3 hạng người như sau:
 
Hạng người thứ nhất: Chuyên dịch kinh sách thông thường của Đức Phật dạy. Rồi tập họp đông người lại để giảng cho số đông người này nghe, vị này được xếp vào hàng dịch giả, nên không biết được cốt tủy của pháp môn Thiền tông học này. Nếu họ có nói mình giảng đúng pháp môn Thiền tông, chỉ là người lạm dụng danh từ của pháp môn Thiền tông học của Đức Phật dạy mà thôi.
 
Để chứng minh ai là người giảng đúng, hoặc không đúng, anh phải kiểm chứng như sau:
 
A- Người có căn cơ đúng với pháp môn Thiền tông học, khi nghe giảng, hay đọc sách viết đúng về pháp môn Thiền tông học này, tự nhiên vị đó bị sức hút của lời giảng hay sách Thiền tông ngay, đó là nói về phần tâm vật lý.
 
B- Còn nói về phần thân tứ đại, khi họ nghe giảng hay đọc sách đúng về pháp môn Thiền tông học rồi, thân họ như lân lân, cảm nhận rất kỳ lạ, v.v…
 
C- Còn người nghe giảng hay đọc sách mà không đúng với pháp môn Thiền tông, dù chúng ta có nghe cả đời, cũng chỉ trơ trơ như vậy thôi. Nếu có vui, chỉ là cái vui của vật lý, rồi tự nhiên quên mất!
 
Hạng người thứ hai: Nói để cho nhiều người đến nghe, họ vui cười. Người đứng ra giảng này, giống như những anh diễn viên trên sân khấu, giúp vui cho người buồn rầu thôi, không phải là người dạy đạo Thiền tông.
Vì sao vậy?
– Vì người giảng về Thiền tông là để giúp cho người nghe giác ngộ và giải thoát.
 
Hạng người thứ ba: Nói để mọi người sợ hãi. Người đứng ra giảng hay nói này, giống như những vị tiên tri bên đạo thờ thần quyền, không giúp cho ai giác ngộ được, chớ đừng nói chi là giải thoát. Đây, cũng không phải là đạo Thiền tông.
Trên đây, chúng tôi xin nói sơ về pháp môn Thiền tông, còn anh muốn cảm nhận được sự an vui kỳ diệu của thân và tâm vật lý của mình, thì anh hãy thực hành việc ăn uống quân bình âm dương, thì mới cảm nhận được.
 
Còn anh muốn ăn uống để ít bị bệnh, hay không bị những bệnh ngặt nghèo, anh hãy ăn theo phương pháp mà chúng tôi đã sưu tầm như dưới đây:
Trước khi trình bày cách ăn uống, chúng tôi xin kể cho anh nghe về đời sống của ông, bà, cha, mẹ, của chúng tôi, cũng như chúng tôi tìm thuốc để trị bệnh như sau:
 
Cách đây, hơn bảy mươi năm, ông, bà, cha, mẹ chúng tôi, đời sống vật chất thiếu thốn, ăn uống hết sức kham khổ nhưng ít bệnh. Còn hiện nay, chúng ta đang sống với thời đại văn minh khoa học cao, vật chất quá đầy đủ, còn thực phẩm hết sức sung túc, nhưng tại sao chúng ta và thế hệ con cháu lại bị bệnh tật quá nhiều, cái nghịch lý ấy làm chúng tôi phải suy nghĩ.
 
Vì suy nghĩ và tìm tòi, nên chúng tôi tìm thấy được vài tia sáng như dưới đây, xin trình bày cho anh nghe. Nếu anh thực hành đúng như lời trong cuốn CẨM NANG ĂN UỐNG này, cố gắng tuân thủ ăn uống như chúng tôi chỉ dẫn, chắc chắn anh sẽ được như sau:
 
1- Nếu anh hiểu được nguyên lý tự nhiên trong vũ trụ này, không làm sai với sự tự nhiên ấy, thì anh khó mà sanh bệnh được.
 
Vì sao vậy?
Vì khi anh hiểu thật rõ ràng những nguyên lý nơi thế giới này rồi, thì:
 
Về thân xác của anh:
– Trước, bản thân anh không bị bệnh hoặc ít bệnh.
– Sau, anh giúp cho nhiều người chung quanh cũng được như vậy.
 
Còn về tinh thần:
– Anh hiểu một cách chuẩn xác, không bị ai lừa anh được.
– Nhờ vậy mà anh không tin những chuyện vu vơ, phản khoa học.
– Khi anh thực hành đúng, sẽ cảm nhận được sự lạc quan kỳ diệu.
– Nếu anh tu theo pháp môn Thiền tông học này, anh sẽ cảm nhận được sự an vui mà từ trước đến nay anh chưa hề biết.
– Anh chỉ cho người bệnh nặng, nếu thực hiện đúng, sẽ dần dần hết bệnh.
– Còn anh chỉ cho người cao tuổi, tuy sức họ đã yếu, nếu họ chịu khó ăn uống đúng, chắc chắn ít bệnh, không tốn tiền thuốc, đỡ phiền hà đến con cháu.
 

Người sưu tầm và biên soạn viết ra là tác giả NGUYỄN NHÂN giải thích cho anh Lê Mạnh Quân, cư ngụ tại đường Âu Cơ, quận 11, thành phố Hồ Chí Minh.


★ Kính thưa độc giả, con người ai cũng bị hai thứ bệnh: thân - tâm và mê tín, tức tin lầm.

Vì sao thân bị bệnh?
 
- Vì thân của con người là do kết hợp âm dương của cha mẹ mới có thân.
 
Thân của mỗi con người có tổng thể 6 thứ:
1. Chất cứng gọi là đất,  gồm có: da, thịt, gân, xương, tuỷ, não,...
2. Chất lỏng gọi là nước, gồm có: máu, mủ, mồ hôi, nước tiểu…
3. Chất khí gọi là hơi thở của con người.
4. Chất ấm gọi là nhiệt độ của con người.
5. Sự biết gọi là tri của con người.
6. Chất kết dính để con người tồn tại gọi là điện từ âm dương.
 
Thân con người cấu tạo là như thế. Vì có thân, nên con người phải theo chu kì của Vật lý: Sinh - lão - bệnh - tử!
 
Nếu bệnh - tử ở tuổi 90 tới 100 thì đúng quy luật của đời người. Con người còn nhỏ mà bệnh, thì do con người ăn hay uống sai với quy luật về vật lý của thân người.
 
Để cho thân người ít bệnh, thì con người phải ăn và uống đúng theo quy luật âm dương của cơ thể. Nếu ăn và uống sai quy luật âm dương, thì chắc chắn sẽ sinh ra bệnh thân!
 
 Các nhà y khoa dạy:
- Những mạch máu trong thân của mỗi con người giống như là những dòng sông trên trái đất này vậy.
 - Nếu dòng sông bị ô nhiễm, thì cây cỏ hoa lá xung quanh dòng sông bị vàng úa!
 - Còn mạch máu trong thân con người bị nhiễm hóa chất, thì Thân con người bị bệnh!
- Đây là quy luật tất yếu của thân con người vậy.
 
 Còn các nhà thực dưỡng học góp ý thêm:
 Thân người muốn ít bệnh, thì nên ăn trái cây đúng mùa, tức mùa nào có trái cây gì, thì ăn trái cây của mùa đó, nhưng không được lạm dụng.
 
Cổ nhân dạy:
Làm người phải có 3 cái học:
1- Học ăn.
2- Học văn.
3- Học nói.
 
* Học văn và học nói có trường dạy đàng hoàng.
- Còn học ăn, chỉ có ông, bà, cha, mẹ và người thân  gia đình của mình dạy mà thôi.
- Do đó, đó việc ăn uống của mỗi người tùy theo trình độ của gia đình mình, cho nên khó mà đạt chuẩn mực được, nên thân phải sinh ra bệnh là vậy! 
 
Vì các nguyên do nói trên, nên chúng tôi có sưu tầm cách ăn uống, để giúp cho ai quan tâm đến phần ăn uống ống, để thân mình ít bệnh, nếu lỡ có bệnh, ảnh dần dần cũng được khỏi.
 
 Muốn ăn uống để ít bệnh thì phải biết các phần như sau:
 1 Ăn cơm như thế nào để có chất bổ dưỡng cao?
 2 Uống nước làm sao sao thân không sang bệnh?
 3 Kiêng cữ những thức ăn nào có hại cho sức khỏe?
 
Thử tìm hiểu 3 căn bản nói trên:
 1/ Ăn cơm:
* Phải ăn gạo lứt trắng hay gạo lứt đỏ gì cũng được, miễn là hạt gạo còn chất lứt bao quanh hạt gạo. Vì chất lứt này này là nhân tố để tạo ra chất bổ dưỡng cao, gọi là bổ dưỡng Dương. 
* Nên ăn với muối mè: Vì mè là chất làm trơn thành động mạch và tĩnh mạch nên trừ được bệnh về tim mạch.
 
2/ Tìm hiểu thực phẩm Dương nhiều:
Gồm có màu sắc và hình dáng như sau:
 
Màu sắc: 
– Màu càng đỏ càng Dương.
– Màu càng vàng càng Dương
– Màu càng đen càng Âm.
– Màu càng xanh càng Âm.
– Màu trắng cho là Quân Bình.
– Nước ít là Dương
– Nước nhiều là Âm.
 
Hình dáng:
– Thon cao là Dương.
– Luộc mà dai là Dương
– Nở ngang là Âm.
– Luộc mà bở là Âm.
 
Cụ thể:
 
Thực phẩm và thức uống Âm nhiều:
– Gừng, ớt, tiêu, nước chanh, me, cà ri, chao, giấm, gạo, kem lạnh, nước đá, thức uống có đường, rượu, cà phê, đường cát, các loại cà, khoai tây, măng, giá, nấm, dưa leo, bắp chuối, khoai mì, môn tím.
 
Thực phẩm và thức uống Âm vừa:
– Rau muống, mồng tơi, su xanh, khoai mỡ, khoai tím, bí đao, mướp ngọt, củ sắn, khoai lang, nếp, các loại gạo mạch, tương, đậu phụ, mẻ, tương cải, va ni, rau răm, nước trái cây, bia, đường thốt nốt, đường thô, đường trái cây.
 
Thực phẩm và thức uống Âm ít:
– Bo bo, bắp, bầu, khổ qua, đậu ve, đậu đũa, rau dền, su hào, khoai mỡ trắng, bơ, mè, tỏi, rau cần, rau húng, quế.
 
Thực phẩm và thức uống Dương nhiều:
– Củ sắn dây, củ khoai mài, muối tự nhiên, trà rễ đinh lăng, nhân sâm, hạt dẻ.
 
Thực phẩm và thức uống Dương vừa:
– Hạt kê, gạo, mì đen, diếp quắn đắng, lá bồ công anh, rau đắng, xà lách xon, rau má, củ cải trắng, củ sâm, củ cà rốt, cà phê thực dưỡng, trà củ sen.
 
Thực phẩm và thức uống Dương ít:
– Bắp cải, bông cải, cải cay, cải ngọt, rau tần ô, rau câu chỉ, phổ tai, quế, hồi, hoắc hương, rau mùi, hành, kiệu, rau diếp cá, ngò, nghệ, tương đậu nành, trà 3 năm trở lên, trà sắn dây, trà gạo rang, sữa thảo mộc, mạch nha, chất ngọt hạt ngủ cốc, chất ngọt mật ong, chất ngọt rau củ.

★ Nhai dầu mè

Đây là phương pháp cực kỳ hay, trị được tất cả các bệnh nan y và thông thường:
Cách thực hiện:
– Mỗi buổi sáng, chưa ăn sáng.
– Súc miệng, cạo lưỡi thật sạch.
– Hỉ mũi cho thông.
– Đổ vào miệng 1 muỗng canh dầu mè, tương đương 10cc. (Trẻ em dưới 12 tuổi sử dụng 5cc).
– Súc miệng nhè nhẹ, từ từ, để dầu mè chạy đều trong các kẻ răng và hóc miệng, làm như vậy chừng 1 phút, bắt đầu nhai nhè nhẹ từ 15 đến 20 phút, các đầu dây thần kinh của lưỡi và má được dầu mè rút chất độc từ trong người ra, lúc này dầu mè trong miệng có rất nhiều độc tố, trở thành màu trắng, nhổ vào bồn cầu hay chỗ nào đừng gây bẩn, súc miệng liền với nước muối ấm được pha loãng 2%. Súc miệng và cạo lưỡi lại, súc miệng bằng nước muối lại lần thứ hai, nếu bị viêm mũi hay bị chảy nước mũi, lấy nước muối rữa mũi, sau vài phút mới ăn điểm tâm. Nếu bị hắt hơi hay ho, nhổ dầu mè vào khăn giấy, bỏ. Tuyệt đối không được nuốt dầu mè đang ngậm, làm lại như ban đầu. Nhai dầu mè tốt nhất là vào buổi sáng, lợi dụng thời gian khi đi tập thể dục. Bệnh thông thường nhai dầu vào buổi sáng là được, còn nặng, nên nhai thêm vào buổi trưa và chiều, bệnh sẽ hết rất nhanh. Người bị bệnh nan y cố gắng kiên trì từ 4 tháng trở lên, hoàn toàn khỏi mới thôi.
 
Đặc biệt phương pháp nhai dầu mè này trị các bệnh:
– Tắc nghẽn mạch máu, mạch tim.
– Tất cả các bệnh ung thư trong nội tạng.
– Tiểu đường.
– Tất cả các tế bào hoặc các mô bị nhiễm độc tố.
– Nhức đầu kinh niên.
– Đau khớp, tê liệt.
– Viêm phổi, viêm gan, viêm não, viêm đường ruột, loét dạ dày, viêm nướu (lợi) răng và các loại viêm nhiễm khác.
Hiệu nghiệm thấy rõ:
– Các bệnh vào buổi sáng, hay khọt khẹt, chảy mũi. Buổi sáng nhai dầu mè chỉ 1 ngày là bớt 50%. Liên tục 3 ngày, hết chảy mũi.
– V.v…

★ Ăn uống không kết quả

Có các ý nghỉ như sau:
1- Mình đang ăn cao lương mỹ vị mà nay chuyên ăn ròng gạo lứt muối mè, thật là khổ!
2- Cả ngày ăn gạo lứt muối mè làm sao có đầy đủ chất dinh dưỡng!
3- Kiến thức hiểu biết của mình là hơn hết, ăn gạo lứt muối mè để cho những người nghèo khổ ăn.
4- Tất cả ý tưởng của người chung quanh phản đối ăn gạo lứt muối mè mà mình không vượt qua được.
V.v…
 
Nếu có các ý tưởng ấy, thôi xin đừng ăn.
 
Vì sao vậy?
 
Vì người xưa nói:
– Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ!
 
Ở châu Mỹ có Hoa Kỳ, ở châu  u có Anh quốc, còn ở Á châu có Nhật Bản, đều có phòng thí nghiệm về tâm thức con người bằng cách:
– Họ đưa cho người vui vẻ nhìn vào ly nước trong, nước trong ly ấy có màu sáng ánh. Cũng ly nước ấy, đưa cho người có tâm trạng rầu buồn nhìn vào, ly nước đó có màu sẫm.
 
Các nhà khoa học họ giải thích:
– Tư tưởng con người tốt hay xấu, nhìn vào vật thể nào đều có tác động vào vật thể ấy cả.
Vì vậy, người ăn uống để trị bệnh mà có tư tưởng xấu, tức nhiên thực phẫm bị xấu đi, làm sao hết bệnh được? Còn người có tư tưởng tốt, cũng là trợ giúp cho thực phẫm của mình ăn được trở thành thượng vị, cho nên mau hết bệnh.
 
Văn học Việt Nam có câu:
– Đồng thanh tương ứng.
– Đồng chí tương cầu.
 
Đúng như vậy, chúng ta làm hay tưởng tượng việc gì, việc đó sẽ đến với chúng ta. Tưởng tượng tốt, việc tốt sẽ đến, còn tưởng tượng xấu, việc xấu cũng sẽ đến.
Ngày xưa, bên Trung Quốc có câu chuyện về Ngũ Tử Tư, ông chỉ lo lắng có một đêm mà qua ngày hôm sau đầu ông bạc trắng. Chứng minh tâm thức con người mạnh mẻ như thế nào. Bình thường, chúng ta rầu buồn ắt sanh bệnh. Vì vậy, dân gian Việt Nam có câu:
– Một tiếng cười bằng 10 thang thuốc bổ!
 
Còn về thực tế cơ thể con người, mỗi người ai ai cũng có 32 chiếc răng được phân chia như sau:
– 8 răng cửa trên dưới, dùng ăn trái cây và củ, chiếm hết 8/32.
– 4 răng nanh, dùng ăn thịt, chiếm hết 4/32.
– 8 răng cối nhỏ, dùng ăn rau, lá, chiếm hết 8/32.
– 12 răng hàm, dùng ăn mễ cốc, chiếm hết 12/32.
 
Nếu chúng ta biết phân chia ăn uống như trên mà ăn thực phẫm hợp với thiên nhiên, cơ thể chúng ta sẽ được cân bằng âm dương, khó mà có bệnh được.
Lúc còn đi học, tôi chỉ thấy ông, bà, cha, mẹ, không khi nào bị bệnh. Nếu có bệnh, chỉ là bệnh cãm sơ thôi, họ dùng nhiều loại lá cây để xông là hết bệnh. Họ không biết uống 1 viên thuốc nào, và cũng không biết bệnh viện là gì.
Ngày nay, văn minh đến với chúng ta, đương nhiên phải đem cái nghịch thiên nhiên đến, cơ thể chúng ta không chuyển hóa kịp, nên sanh bệnh là phải. Nếu muốn không bệnh, chúng ta phải trở về ăn uống hợp với thiên nhiên là không bị bệnh.
Muốn biết thực phẩm chế biến có độc hay không, chúng ta thử sẽ biết:
– Ai ăn uống hợp với thiên nhiên 20 ngày thôi, thử ngậm chừng một ngụm nước ngọt, răng, môi, sẽ phản ứng ngay, phù môi, phù lợi răng liền.
Cách ăn uống này, đã cứu lấy tôi ra khỏi bàn tay thần bệnh tật. Nên tôi viết ra quyển sách nhỏ này, mục đích là, ai có duyên đọc được, cố gắng thực hành để không phải khổ vì bệnh tật, nhất là người có tài chánh kém, đở phải lo.

★ Người già tại sao bệnh nhiều

Câu hỏi trên được giải đáp 3 nguyên lý như sau:
 
Thứ nhất: Không biết cách ăn uống, như nói ở trên, vì không trường nào dạy, nên ăn uống trái với thiên nhiên, thích ăn là ăn, không biết thức ăn nào là tốt, thức nào là xấu, thức nào sanh bệnh, còn thức nào là bổ dưỡng.
 
Thứ hai: Con cháu không lo, xem người gìa là của nợ. Người gìa buồn tuổi, nên sanh bệnh.
 
Thứ ba: Con cháu thương và lo quá mức. Ép ăn những thức ăn có hại cho người già, tức cực Âm, như: Nước đá chanh đường, nước sinh tố, các loại chè, vitamine C, trái cây cho đẹp, cho bóng, cho láng, những trái cây ngon ngọt và đắt nhất trên đời. Vô tình đưa người già vào bệnh viện … nghĩ ngơi!
 
Nhận diện người ăn uống sai:

– Thấy người gìa nào: Mặt nám, má xệ, trổ đồi mồi nhiều là lạm dụng: Trái cây, đường, sữa, bột ngọt, các thực phẩm Âm nhiều.


★ Lý giải uống nước:

Cơ thể con người trung bình có 5 lít máu. Ngày đêm nó phải qua thận lọc 200 lần, như vậy bình thường quả thận làm việc 1.000 lần trong 24 giờ. Tất cả các thực phẫm dung nạp vào cơ thể ½ lít nước, và uống thêm ½ lít nước nữa là 1 lít. Như vậy quả thận lọc thêm 200 lít, cộng là 1.200 lít, nếu ai tuân thủ như vậy và ăn thực phẫm thiên nhiên sẽ sống đến 80 tuổi được bình an. Còn uống 2 lít, thận lọc là 1.400 lít, cơ thể chịu nổi đến 70 tuổi, còn uống 3 lít, thận lọc 1.600 lít, như vậy cơ thể chỉ thọ đến 60 năm, nhưng ở tình trạng yếu ớt, bệnh hoạn.
 
Làm sao biết cơ thể đủ nước:

– Cơ thể con người trung bình 24 giờ, thải nước tiểu ra ngoài 4 hoặc 5 lần là đúng, ít hơn là thiếu, còn nhiều hơn là nước dư, tự điều chỉnh lấy.


★ Trị bệnh ung thư hay viêm nhiễm:

– Không ăn thịt động vật.
 
Vì sao vậy?
– Vì thịt động vật, là môi trường rất thích hợp cho vi khuẩn phát triển.
– Còn ăn cốc loại và dầu mè, hay dầu dừa (loại chế biến để làm thức ăn), vi trùng không thể nào phát triển được, mà còn bị đẩy ra ngoài theo tuần hoàn của cơ thể.
 
Chúng ta thử thí nghiệm sẽ biết:
– Đem thịt động vật bỏ xuống đất, có rất nhiều côn trùng và vi khuẩn bu lại để ăn.
– Còn bỏ xuống đất cốc loại, rất ít côn trùng hay vi khuẩn đến ăn.

★ Chống viêm lợi (nha chu) và sâu răng

Theo ngành Nha khoa học: Muốn có sâu răng phải có 3 điều kiện:
Một: Men răng.
Hai: Bột đường.
Ba: Vi khuẩn.
 
Đây là các nguyên lý để có bệnh sâu răng. Muốn loại trừ một trong các nguyên lý ấy, chúng ta phải biết cách.
 
Trước nhất phải hiểu, sau một đêm dài ngủ nghĩ, lợi răng bị vãn nở. Khi thức dậy, phải sau 2 hoặc 3 giờ, lợi mới trở lại bình thường. Nếu vừa thức dậy mà chải răng, vô tình làm lợi răng càng bị đào sâu, sau đó ăn uống, tức nhiên vi khuẩn dễ bám vào chỗ hở của lợi, nếu mắc phải vi trùng nha chu, tức nhiên bị viêm lợi, cũng gọi là nha chu viêm, nếu bị vi trùng yếm khí, sẽ bị sâu răng, chưa nói đến khi ăn uống thay đổi nhiệt độ một cách quá đột ngột làm mất đi sự mạnh khỏe của răng và lợi.
 
Muốn tránh viêm lợi và sâu răng, phải biết chải răng và súc miệng đúng cách như dưới đây:
– Sáng chỉ cạo lưỡi, súc miệng bằng nước lã, không chải răng, ngậm 20 giây nước muối pha loãng (1 phần muối, 50 phần nước tức = 1/50).
– Trưa như buổi sáng.
– Chiều, trước khi đi ngủ: chải răng với kem theo chiều răng mọc, sau cùng ngậm nước muối pha loãng như buổi sáng.
 
Lý giải:
 
– Buổi sáng dù lợi răng có hở chúng ta đã đưa dung dịch nước muối pha loãng làm sát khuẩn, vi khuẩn không thể lưu trú chỗ lợi hở được.
– Trưa cũng giống như sáng, nhưng trưa tỷ lệ viêm nhiễm chỉ bằng 1/5 của buổi sáng.
– Tối là bắt đầu của đêm dài ngậm miệng, cũng là thời gian thích hợp cho các vi khuẩn sanh sôi nẩy nở để sanh ra bệnh sâu răng và viêm lợi. Nếu không muốn bị bệnh, phải biết cách loại đi vi khuẩn như cách súc miệng và chải răng như nói trên, không khi nào bị bệnh cả. Nhất là các cháu bé hiện nay, nếu muốn giúp đỡ các cháu không bị sâu răng và viêm lợi, người lớn nên hướng dẫn các cháu.
Chú ý nhất, khi ăn thịt bị dính kẽ răng nên dùng chỉ nha khoa kéo ra liền, đừng để dính lâu, vì dính lâu men răng bị mục, vi trùng yếm khí có chỗ chui vào, sanh bệnh sâu răng.
★ Lời khuyên về ăn uống
 
Gạo: Đừng ăn gạo quá trắng, vì chất lứt bao chung quanh hạt gạo là chất làm trung hòa giữa tinh bột gạo và lứt, biến thành chất bổ dưỡng sản sanh ra đường “Đa”, cũng gọi là đường “Dương”, đường Dương là khỏe mạnh. Còn đường “Đơn” là đường “ m”, là đường mía và đường của trái cây, sanh ra chất chua, nơi môi trường thích hợp cho vi khuẩn lưu trú nên sanh ra bệnh.
Công dụng của mè vàng:
Chất có tác dụng làm sạch mạch máu, vì vậy, chữa được bệnh về hệ thống tim mạch. Hệ thống tim mạch bị dơ, nó sanh ra vi khuẩn nên bị các bệnh như:
– Cao máu, đau nhức, nhức mỏi, tê tay tê chân, mờ mắt, v.v
– Trái cây, rau, củ, đậu, v.v… ăn phải đúng mùa, ăn vừa phải, đừng lạm dụng. Vì thiên nhiên đã sắp sẳn từng mùa một. Loại trái cây nào thích cho mùa nấy. Nếu chúng ta ăn uống trái mùa, giống như: Mùa Đông mà mặc áo Hạ, còn mùa Hạ lại mặc áo Đông vậy. Cái nghịch lý ấy, thân thể người mặc phải bị khổ. Các thức ăn uống khác phải biết loại nào  m, loại nào Dương.
– Ăn uống phải cân bằng  m Dương.
– Không ăn uống thực phẩm chế biến, vì mất đi tự nhiên.
– Không ăn uống thực phẩm có chất độc hại.
– Không sử dụng đồ nhựa đựng thức ăn nóng.

★ Lời nói thêm:
 
– Ăn uống kiêng cữ như nói trên, ít người tuân thủ đúng được. Nhiều người nghe nói ăn hết bệnh, cũng ăn, nhưng chỉ vài ngày là không theo được rồi.
 
Vì sao vậy?
Vì con người sống trên trái đất này là sống theo “nghiệp thức” của mình, đó là nói theo luật của nhân quả, còn nói theo thực tế, mỗi con người phải sống với trình độ hiểu biết của mình. Nếu quá sự hiểu biết của mình, là mình không chịu, mà phải sống với ý muốn của mình. Đó là người bình thường.
 
Còn đặc biệt hơn: Người có kiến thức cao, hoặc có tài chánh hơn người, không chấp nhận ăn và kiêng cử như nói ở trên. Do đó, nhiều người lớn tuổi cứ vào bệnh viện cấp cứu hoài, mà không chịu tìm hiểu cách ăn uống của mình.
 
Người đi cấp cứu là bị như sau:
Trong thực phẩm mình ăn uống bị âm nhiều, khi vào bệnh viện cấp cứu. Trước tiên, bác sỹ cho nước biển vào tĩnh mạch, nước biển là nước cất pha dung dịch với muối, nên có vị mặn, để xua chất chua trong máu, tức làm cho chất chua trong máu loãng ra, người bệnh đào thải ra ngoài bằng đường tiểu, là người bệnh khỏe lại liền.
 
Chúng tôi đã từng chứng kiến, nhiều vị vừa khỏe, liền sai con, cháu ra ngoài mua sinh tố, nước yến hoặc nước ngọt uống vào!
Đồng nghĩa, bác sỹ vừa cứu mình hết bệnh, mình lại đem bệnh vào nữa, thật là khổ chồng thêm cái khổ!
Trong sách viết: Nếu tuân thủ ăn uống cho đúng, rất nhiều người bị bệnh ung thư, mà các cơ phận trong người còn nguyên, thì các tế bào bệnh sẽ trương nở trở lại, kết quả hết bệnh đến 98%. Còn người các cơ phận bị cắt bỏ bớt, cũng hết bệnh, nhưng chỉ chiếm từ 50 > 60% thôi.
 
Đi cầu:
Phân vàng, chặt là tốt. Phân có màu tối và nhão là bị  m nhiều, nên chỉnh thức ăn Dương lên, để được quân bình. Nếu ăn rau xanh nhiều, phân bị sạm cũng không sao.
 
Đi tiểu:
Trung bình mỗi ngày đi tiểu 4 hay 5 lần là vừa, nếu nhiều hay ít hơn phải điều chỉnh nước uống.
Ăn mặn: Nước tiểu có màu vàng giống như màu bia, không cặn là tốt.
Ăn chay: Nước tiểu trong như nước suối là tốt.
 
Hơi thở:
Mỗi ngày phải hít thở thật sâu cho căn người vài lần, khi thở ra cũng phải ra cho thật sạch, không để không khí tồn động trong hóc phổi hay hóc tế bào quá lâu, vì quá lâu vùng đó bị ô nhiễm, sanh bệnh.
 
Đồ nhựa (polymer):
Tất cả thực phẩm dù nóng hay lạnh, không sử dụng đồ nhựa để bảo quản hay ăn uống.
Vì sao vậy?
Vì đồ nhựa được làm từ hóa chất, nên hóa chất hút vào thực phẩm, sử dụng lâu ngày sẽ sanh ra bệnh.
 
Cái lợi của ăn uống:
– Cái lợi của ăn uống này là không đau nhức. Ngủ rất ngon. Thân thể rất nhẹ nhàng thoải mái. Nếu người ăn mà được cân bằng Âm Dương người mình rất bình tỉnh, thơi thới, nhẹ nhàng, điềm đạm, không nóng nảy, không bộp chộp …
– Già rồi mà không tốn tiền thuốc. Không nhức mỏi, không đau nhức, không phiền hà đến người thân, nhất là ăn uống không tốn tiền nhiều, còn gì bằng.

★ Cách lấy chất ngọt trong rau củ để làm nước nêm thay đường:
 
– Bắp trái, 1 trái, lột vỏ, rửa sạch, bẻ đôi.
– Mướp, 1 trái, rửa sạch, xắt làm hai hay ba, bốn.
– Bắp cải trắng, 10 bẹ, rửa sạch, xắt làm ba, làm tư.
– Củ sắn, 1 củ, lột vỏ, rửa sạch, xắt từng lát mỏng.
– Củ cải trắng, 1 củ, rửa sạch, xắt từng lát mỏng.
 
Tất cả bỏ vô nồi, đổ nước cao hơn các phần trên 30%, nấu cho rục. Để nguội, đổ vào chai thủy tinh, dùng làm nước nêm để thế đường.
★ Phân lượng muối và mè:
 
-Tuổi từ 30 đến 40 : 25 muỗng mè, 1 muỗng muối.
-Tuổi từ 41 đến 50 : 40 muỗng mè, 1 muỗng muối.
-Tuổi từ 51 dến 60 : 50 muỗng mè, 1 muỗng muối.
-Tuổi từ 61 trở lên: 60 muỗng mè, 1 muỗng muối.
 
Người trẻ, từ 30 đến 50 tuổi một ngày chỉ sử dụng tối đa 1,5 muỗng cà phê muối. 
Người từ 61 đến 70 tuổi, một ngày chỉ sử dụng 1 muỗng cà phê muối.
Tính tất cả các muối đã nêm vào thức ăn. Người cao tuổi hơn, càng ít muối càng tốt, nhưng phải có muối, nếu thiếu muối người già dễ bị xỉu.
★ Làm nước tương cốt:
 
– 1 cái lu hay khạp.
– 6 ký đậu nành (hấp cho mềm.).
– 6 ký muối hột (muối có thể thêm hay bớt miễn là sao đo độ mặn đủ 2 độ là được), nấu sôi, lóng cặn, lọc lấy nước sạch, đổ vào lu hay khạp, vừa bằng với đậu nành).
– Nước muối đo đúng 2 độ (mua độ kế ở chợ Kim Biên).
– 1 ký bột mì (cây mì) rang cho vàng.
– 1 bọc meo, trộn với bột mì để từ 1 ngày 1 đêm trở lên, canh màu meo chuyển đến màu lá mạ non sang màu xanh lông chim két là rắc vô khạp đựng đậu và nước muối, trộn đều (meo và bột mì đang ở màu vàng hay màu đỏ là còn độc, v.v…)
– Để 5 ngày, châm nước muối thêm cho ngập đậu, gài nang tre cho đậu chìm sâu xuống 5 phân.
– Phơi ngoài nắng, tối đậy nắp lu hơi hở, mưa đậy
nắp kín, ban ngày dỡ ra.
– Bốn tháng sau chắt lấy nước, đậu bỏ vào bao vải, vắt lấy hết nước cốt, tất cả đều lược lại cho sạch cặn, muốn thật kỹ, nấu lại vừa sôi, bỏ vào khạp khác, khạp nhơ rữa sạch và sát trùng kỹ bằng nước sôi, để chỗ hanh nắng, đậy nắp kín, băng keo giấy lại, mỗi tháng thăm chừng 1 lần, từ 6 tháng trở lên, nước tương bắt đầu keo dần lại, là ăn từ từ được, làm tương tỏi là lấy từ lúc nầy. Nước tương cốt này để càng lâu càng tốt, vì nó càng dương. Dưỡng sinh gọi là tương Tamari nguyên dương. Khi để lâu, để trong mát.
★ Súp bổ dưỡng ăn chay:
– Đậu đỏ, 5 grs (nấu mềm chắt bỏ nước).
– Đậu trắng, 5 grs (nấu mềm chắt nước).
– Bí đỏ, 10 grs (xắt bỏ võ).
– Phổ tai, 5 grs (xắt nhuyễn).
– Hột sen, 5 grs.
– Sâm Hà Nội, loại cứng, (xắt từng lát mỏng).
Sáu thứ trên nấu chung cho thật rục, nêm muối vừa ăn và chất ngọt của cốc loại, vừa đủ ngọt.
Đây là chất bổ dưỡng thật cao, dùng cho người ăn
chay, bệnh mau hồi phục sức.
★ Súp bổ dưỡng ăn mặn:
– Đậu đỏ, 5 grs (nấu mềm chắt bỏ nước).
– Đậu trắng, 5 grs (nấu mềm chắt bỏ nước).
– Bí đỏ, 10 grs (xắt bỏ võ).
– Phổ tai, 5 grs (xắt nhuyễn).
– Hột sen, 5 grs.
– Thịt bò, 10 grs, (hoặc thịt gà, hay thịt tôm, loại tôm lớn, ướp mặn trước xắt từng lát mỏng, (không được sử dụng thịt heo, vì thịt heo cực âm).
Các thứ trên nấu cho thật rục, nêm muối vừa ăn, nêm chất ngọt vừa ngọt.
Đây là chất bổ dưỡng thật cao, dùng cho người bị
bệnh, hồi sức nhanh, người trúng thực mau lấy lại
sức, là thuốc bổ cho người già yếu.
 
 

 

Từ khóa: