Chia sẻ

Con người từ đâu đến với thế giới này? Chết rồi sẽ đi về đâu?

Ngày đăng: 10-01-2020

Tất cả đều có câu trả lời trong quyển Huyền Ký và quyển Giáo Lý Đạo Phật Thiền Tông học này


 

Bài Tham Luận của ông La Ngọc Lâm, ở quận 6, TP.HCM, nói về pháp môn Đạo Phật Thiền tông học: 
 
Kính thưa quý vị:
 
- Tôi là La Ngọc Lâm, sanh năm 1.955, cư ngụ quận 6, TP.HCM. Hôm nay, nhân dịp ông Nguyễn Công Nhân, Viện chủ chùa Thiền Tông Tân Diệu, được Hội Di Sản Văn Hóa Việt Nam, tặng:
 
1- Kỷ Niệm Chương Vì Sự Nghiệp Di Sản Văn Hóa Việt Nam.
 
2- Bằng Khen cho ông Nguyễn Công Nhân, Viện chủ chùa Thiền Tông Tân Diệu, vì đã có công đóng góp tích cực vào hoạt động bảo vệ và phát huy giá trị Di Sản Văn Hóa Dân Tộc.
 
3- Tặng cho chùa Thiền Tông Tân Diệu 01 Mặt Trống Đồng Việt Nam.
 
Và được Liên Hiệp Các Hội UNESCO Việt Nam, trao tặng bằng chứng nhận Không Gian Văn Hóa Tâm Linh cho chùa Thiền Tông Tân Diệu, ngụ tại số 273, ấp Chánh Hội, xã Tân Mỹ, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
 
Vì vậy, hôm nay tôi có bài Tham Luận để đóng góp vào buổi lễ này với chủ đề: “Tinh hoa Nhân loại”.
 
Kính thưa quý vị!
 
Chắc quý vị đã từng nghe câu:
 
- Hoa nở để rồi tàn!
 
- Trăng tròn để rồi khuyết!
 
- Con người sanh ra, để rồi chết đi!
 
Ồ! Thì ra ở thế giới này không có gì gọi là bền vững cả! Chẳng nhẽ Trong thế giới này không có gì trường tồn mãi mãi gọi là vĩnh cửu sao?
 
- Hôm nay, hoa nở, để rồi mai hoa tàn!
 
- Hôm nay, trăng tròn, để rồi mai trăng lại khuyết!
 
- Hôm nay, con người được sinh ra, để rồi ngày mai lại chết đi!
 
Kính thưa quý vị!
 
Cách đây, khoảng 2.563 năm, có một vị Thái Tử con của vua Tịnh Phạn và Hoàng hậu Ma Da, trị vì nước Ca Tỳ La Vệ, ở miền Nam của núi Hy Mã Lạp Sơn, danh là Thái Tử Tất Đạt Đa, có 04 thắc mắc như sau: 
 
1- Con người từ đâu đến với thế giới này?
 
2- Con người đến với thế giới này để tranh giành, hơn thua, chém giết lẫn nhau!
 
3- Sau cùng rồi cũng phải lìa bỏ tất cả! 
 
4- Sau khi chết, rồi sẽ đi về đâu?
 
Bốn thắc mắc nêu trên, Ngài hỏi tất cả những vị quan trong Triều và những vị thông minh trong Hoàng tộc, nhưng không vị nào giải thích cho Ngài rõ thông được. 
 
Vì vậy, Ngài xin vua Cha ra ngoài Hoàng cung hỏi những vị Tu sỹ có danh tiếng, để biết sự thật. Nhưng tất cả những vị Tu sỹ có danh tiếng thời đó, không vị Tu sỹ nào trả lời cho Ngài rõ thông được. Nên Ngài xin phép vua Cha xuất Cung đi tu để tìm cho ra sự thật 4  thắc mắc nêu trên. Vua Cha bằng lòng.  
 
Ở nước Ca Tỳ La Vệ này có rất nhiều đạo. Tất cả các đạo, vị Giáo sỹ đạo nào cũng nói đạo mình là “Chân Lý” cả.
 
Trong nước Ca Tỳ La Vệ, có 03 đạo được nhiều người theo tu nhiều nhất là:
 
1- Đạo Thần.
 
2- Đạo Thánh.
 
3- Đạo Tiên.
 
- Giáo sỹ đạo Thần dạy: Tu để có Thần thông, hiểu biết được tất cả. 
 
- Giáo sỹ đạo Thánh dạy: Tu để được Hiển linh, cái gì cũng biết. 
 
- Giáo sỹ đạo Tiên dạy: Tu để nhàn hạ, thì cái gì cũng thông.
 
Thái tử Tất Đạt Đa nghe vậy, nên vào các đạo này tu. Suốt nhiều năm, nhưng không rõ thông 4 thắc mắc của Ngài, nên Ngài tự dụng công ngồi Thiền để tìm hiểu, sau cùng Ngài đã rõ thông 4 phần mà Ngài thắc mắc. 
 
Kính thưa quý vị:
 
Sáu năm trời, Thái tử Tất Đạt Đa, đã khổ công tìm ra 4 thắc mắc của Ngài, sau cùng rồi Ngài cũng biết được. 
 
Tôi xin kể cho quý vị nghe Thái tử Tất Đạt Đa 6 năm trời tìm ra sự thật như sau:
 
- Người của chúng ta ai ai cũng đều có cái Tánh cả. 
 
- Cái Tánh đó chẳng từ đâu sanh ra và cũng chẳng bao giờ chết đi, Ngài tạm gọi là Như Lai. Hai từ Như Lai tạm dịch là chẳng từ đâu đến và chẳng đi về đâu!
 
Càn khôn vũ trụ thì bao la không biên giới và chứa đầy những cái Tánh đó. Khoảng không gian bao la không biên giới, Ngài tạm gọi là Phật, mà các Tánh đó thì có đầy khắp trong khoảng không gian bao la này, nên Ngài gọp chung lại gọi là Tánh Phật. Khoảng không gian bao la có chứa hằng hà sa số Tánh Phật, Ngài tạm gọi là “Bể Tánh Thanh Tịnh” hay còn gọi là “Phật Giới”.
 
Trở lại với cái Tánh tạm gọi là Tánh Phật. Ngài nhận biết, trong mỗi con người chúng ta, ai ai cũng có tánh Phật, nhưng chúng ta không biết, nên dụng công tu tìm cho ra tánh Phật.
 
Con người ai có Thân, thì phải có tánh Người, nhưng chúng ta cũng không biết, cho là Linh Hồn. Vì chỗ hiểu sai này, nên con người đi cầu xin và lạy lục người khác.
 
Kính thưa quý vị:
 
Vì con người hiểu sai như vậy, mà còn Kiến chấp, cho Ta là khôn hơn hết, không ai bằng Ta, sự hiểu biết của Ta là đúng nhất. Vì cái Kiến chấp này, mà con người phát sanh ra Tưởng tượng, chính cái Tưởng tượng và Kiến chấp này phát sinh ra:
 
- Người tu có phẩm cấp cao, cho Ta là Thầy giỏi. Bịa ra những chuyện không thật, để lừa người ngu dại!
 
- Người ngu dạy tưởng thật nên quỳ lạy người lừa bịp này.
 
- Sau cùng, người khôn và người dại này, tự gieo Nhân quả với nhau, cùng nhau bị Nhân quả Luân hồi, theo Quy luật Vật Lý Điện từ Âm Dương nơi trái đất này, cuốn hút và kéo đi. 
 
Kính thưa quý vị:
 
Trong tánh của mỗi con người có 16 thứ, gồm:
 
1- Thọ: Thấy nghe cái gì, cũng đem vào Thân này. Tức Thọ nhận. 
 
2- Tưởng: Thấy nghe cái gì cũng Tưởng tượng, nên sanh ra: Buồn – Thương – Giận – Ghét, v.v…
 
3- Hành: Thấy nghe cái gì cũng Hành động, nên bị Nhân quả.
 
4- Thức: Thấy nghe cái gì cũng Biết, rồi Tưởng tượng ra, gọi là Kiến thức của mình.
 
5- Tài: Cho Thấy, nghe, nói, biết của mình là hay hơn hết, rồi cho mình là Tài.
 
6- Sắc: Vì Thấy, nghe, nói, biết cho mình là Tài, nên thấy Sắc đẹp gì cũng muốn thâu về cho mình.
 
7- Danh: Vì mang Thân người, nên thích Danh lớn đến với mình, nên tìm đủ mọi cách cho mình có Danh.
 
8- Thực: Vì mang Thân người, nên ham Thực cho Thân người khỏe mạnh.
 
9- Thùy: Vì mang Thân người, nên tìm chỗ nào sang trọng cho Thân người Thùy êm ấm cao sang.
 
10- Tham: Vì mang Thân người, nên phải Tham Danh và Vật chất nhiều về cho Thân người.
 
11- Sân: Vì mang Thân người, ai nói nặng hay đụng đến nó, là nó Sân.
 
12- Si: Vì mang Thân người, cái nó muốn mà không được, nên nó phải Si.
 
13- Mạn: Vì mang Thân người, cho Thân người của mình là cao nhất, tức cho Thân ta là hay hơn hết, nên ai nói đến Thân Ta, thì ngã Mạn nổi lên.
 
14- Nghi: Vì mang Thân người, sợ người khác hại Thân người mình, nên thấy ai cũng Nghi.
 
15- Ác: Vì mang Thân người, sợ người khác hại mình, nên sanh ra Ác.
 
16- Kiến: Vì mang Thân người, cho Thân người mình là tài giỏi hơn hết, nên sanh ra Kiến chấp.
 
Kính thưa quý vị:
 
Vì tánh Người có 16 thứ nêu trên, mà trong tánh Người có cái Tưởng là mạnh nhất, nên phát ra 8 muôn 4 ngàn cái Tưởng nhỏ nữa.  8 muôn 4 ngàn cái Tưởng nhỏ như sau:
 
1- Tưởng Càn khôn vũ trụ này do Thượng Đế làm ra.
 
2- Tưởng lạy Thượng Đế, thì được Thượng Đế ban phước.
 
3- Tưởng tu kiểu này thì thành Phật.
 
V.v…
 
Khi Thái Tử Tất Đạt Đa tu tập chứng được Tam minh, lục thông, Ngài thấy biết được con người, ngoài việc tạo ra nghiệp ác và nghiệp thiện, con người còn có thể tạo ra công đức, mà công đức đây là phương tiện để mọi người trở về nơi mình đã từng ra đi, đó là “Bể Tánh Thanh Tịnh Phật Tánh” hay còn gọi là “Phật Giới”. Ở Phật Giới sẽ không còn cảnh Sanh - Già - Bệnh - Chết nữa, đó mới là cõi vĩnh hằng, không bao giờ thay đổi theo định luật Thành - Trụ - Hoại - Diệt như ở trái đất hoặc trong các Tam Giới này.
 
Thấy biết được như vậy, Ngài muốn đem cái thấy biết chân thật ấy để chỉ dạy lại cho mọi người cùng biết được công thức, để trở về quê xưa của mình, đó là Phật Giới. Nhưng nghiệt ngã thay, loài người thì bị vô minh của Tánh Người che lấp nên không tin những lời của Ngài nói ra, mà ngược lại còn cho những lời chỉ dạy của Ngài là tà đạo, là của Ma Vương. 
 
Nhờ mở được ngũ nhãn, nên Ngài thấy biết được khắp trong Càn khôn vũ trụ có những gì. Nhờ chứng được Tam minh, lục thông nên Ngài đành dùng phương tiện để dìu dắt chúng sanh bằng các pháp tu hành có dụng công, có chứng đắc, để đáp ứng sự kém hiểu biết của loài người.
 
Trong suốt 49 năm truyền pháp, cứu loài người ra khỏi dòng nhân quả luân hồi: 
 
Trong  giai đoạn 15 năm đầu, Ngài dạy con người 37 pháp Quán Trợ Đạo, để cho con người an trú vào cảnh tịch tịnh, để chứng đắc tứ quả Thinh văn là Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm và A La Hán. Pháp môn này Ngài dạy đầu tiên nên người ta còn gọi là pháp môn Nguyên Thủy. Những người tu theo pháp môn này, khi được chứng đắc họ liền đi về phương Nam để truyền bá nên còn gọi là Nam truyền.
 
 
Tiếp theo 15 năm kế, Ngài dạy con người học lý luận để làm Giảng Sư Nhà Phật. Pháp môn này còn gọi là Triết Lý Phật Thích Ca.
Mười lăm năm kế tiếp, Ngài dạy con người cách Nghi, Tìm, Kiếm hữu dụng trong vật chất, pháp môn này còn gọi là Đại Thừa. Song song trong những năm thuyết các pháp Tiểu Thừa, Trung thừa, Đại Thừa, Ngài còn dạy con người tu niệm Phật và niệm Mật Chú. Tất cả cũng chỉ để đáp ứng theo cái tưởng của loài người. 
 
 
Trong thời gian dạy các pháp tu hành có dụng công, Ngài chú ý những người có căn duyên hiểu biết hơn người để Ngài truyền lại sự hiểu biết tột cùng mà loài người chưa ai biết qua, đó là pháp môn Ngài tạm đặt tên là “Như Lai Thanh Tịnh Thiền”. Nhưng số người tiếp nhận được pháp môn đó không có là bao, nên Ngài đành nghĩ ra cách là Bí Mật truyền lại cho những thế hệ hậu nhân mai sau. 
 
 
Trước khi nhập niết bàn, đang ở tại núi Linh Sơn, Ngài đã kiểm thiền bằng cách là tay phải Ngài cầm một cành hoa sen giơ lên trước hội chúng  1.250 người. Mọi người đều ngơ ngác nhìn, nhưng chẳng hiểu được ẩn ý của Phật muốn dạy gì, chỉ có mỗi ông Ma Ha Ca Diếp mỉm miệng cười, Đức Phật nhận thấy và Ngài đã ấn chứng cho ông Ma Ha Ca Diếp sau này tiếp nối dòng Thiền từ Đức Phật truyền lại cho các vị Tổ ở các đời kế tiếp và căn dặn:
 
“Phải đợi đến thời Mạt Thượng Pháp, khi văn minh của loài người lên cao, pháp môn này phải chánh thức công bố ra cho mọi người cùng biết. Nếu ai muốn thoát khỏi vòng nhân quả luân hồi để trở về Phật Giới, phải chỉ dẫn công thức cho họ”.
 
Ngài Ma Ha Ca Diếp, được Đức Phật phó chúc cho ông làm Tổ thứ nhất của dòng Thiền, pháp môn này được gọi là Như Lai Thanh Tịnh Thiền.  Đến đời Tổ thứ hai là Ngài A Nan, Đức Phật dạy phải đổi tên là Thiền Tông. Ý nghĩa của hai chữ Thiền Tông là pháp môn Thiền được truyền riêng theo một tông phái riêng, vì không nằm chung trong các pháp tu có dụng công, nên hầu hết những người tu hành các pháp môn có dụng công, có chứng có đắc không nhận biết được pháp môn này, vì pháp môn này khi còn tại thế Đức Phật chỉ truyền riêng cho những đệ tử có trí tuệ hiểu biết sâu rộng và có niềm tin về “Chánh Pháp Nhãn Tạng, Niết bàn Diệu Tâm, Thực Tướng Vô Tướng” .
 
Để làm vật tín, Đức phật đã trao lại cho ông Ma Ha Ca Diếp chiếc bát ăn cơm, áo choàng Phật mặc khi đi ra ngoài và gói kệ Huyền Ký cũng như Giáo Lý của Đạo Phật Thiền Tông.
 
 
 
Từ đời Tổ thứ 01 là ông Ma Ha Ca Diếp, truyền dẫn đến đời Tổ thứ 28 là Ngài Đạt Mạ Tổ Sư, dòng Thiền Tông chuyển hướng sang nước lớn phương Đông (Hiện nay là nước Trung Quốc), dòng Thiền tiếp tục thêm 5 đời Tổ nữa. Đến đời Tổ Huệ Năng, Ngài nhờ sự trợ giúp của vua Võ Tắc Thiên, nên cho chép cuốn Huyền Ký của Đức Phật truyền theo dòng Thiền Tông ra thành 600 quyển. Nhờ đó mà sau này vua Trần Nhân Tông của nước Nam ta cũng nhận được bản sao của quyển Huyền Ký này. Nhờ vậy, vua Trần Nhân Tông nhận bản sao quyển Huyền Ký, do vua Võ Tắc Thiên cho phép viết lại. Đức vua Trần Nhân Tông đọc được quyển Huyền Ký này, Đức vua hiểu, cũng gọi là Ngộ đạo. Nhân dân Đại Việt xưa, phong tặng cho Ngài là Phật Hoàng Trần Nhân Tông.
 
Trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa, ở phẩm thứ 12, Đức Phật có nói đến từ Long Nữ dạy người thành Phật. Long Nữ ấy đã nhận được bộ tập Huyền Ký và quyển Giáo Lý Đạo Phật Thiền Tông. Vì những quyển sách của Đức Phật bí mật truyền theo dòng Thiền tông, nên những vị tu theo đạo Phật, từ trước đến nay chưa hề nghe nói đến quyển Huyền Ký và Giáo Lý Đạo Phật Thiền Tông học này. Quyển Giáo Lý Đạo Phật Thiền Tông, Đức Phật viết bằng chữ Điện từ, nên gọi là kinh Vô Tự. Vì quyển kinh Vô Tự này, là trình bày sự thật 100%, từ vạn vật hữu hình đến vô hình, nhưng chưa được công bố ra, nên người tu theo Đạo Phật không ai biết là vậy.
 
 Đức Phật có dạy quyển Giáo Lý Đạo Phật Thiền Tông như sau:
 
- Nếu xuất bản được thì xuất bản, còn không thì thôi. Quyển Giáo Lý Đạo Phật Thiền Tông nếu được xuất bản ra, thì được 02 cái lợi:
 
1- Người nào đọc và hiểu được, thì hoàn toàn người này không còn mê tín.
 
2- Quốc gia Việt Nam nếu có nhiều người đọc mà hiểu, thì Quốc gia Việt Nam cũng có nhiều người sáng suốt, không phạm pháp và không làm tổn hại quốc gia.
 
Kính thưa quý vị:
 
Đặc biệt Đạo Phật Thiền Tông chuyên dạy 02 phần:
 
- Một là Giác ngộ, tức hiểu biết, từ: Con người, vạn vật, trái đất, Tam giới, Phật giới, Càn khôn vũ trụ, Quy luật Nhân quả luân hồi, v.v…
 
- Hai là Giải thoát, tức dạy công thức thoát ra ngoài Quy luật Nhân quả luân hồi, do sức hút của Điện từ Âm Dương nơi trái đất này, để trở về Phật giới.
 
- Nếu những vị tu theo Phật học có danh tiếng cho pháp môn Thiền Tông là Tà đạo, thì những vị ấy hãy trình bày ra thế nào là chánh đạo, thế nào là Giác ngộ, thế nào là giải thoát và Giải thoát nghĩa là sao?
 
Nói tóm lại, từ trước đến nay chưa có một Tôn giáo nào chứng  minh được: 
 
  - Con người từ đâu đến với thế giới này? 
 
  - Con người đến với thế giới này để làm gì? 
 
  - Sau khi chết sẽ đi về đâu, thật rõ ràng như pháp môn Đạo Phật Thiền Tông học này.
 
  - Trên trái đất này có mấy loài sống chung? Và nhiệm vụ của từng loài ra sao?
 
  - Trong Càn khôn Vũ trụ này có chứa những gì?
 
  - Tại sao trên thế gian này không có gì tồn tại vĩnh cửu cả?
 
  - Tại sao Đức Phật lại công bố được cái gọi là trường tồn vĩnh cửu, chẳng bao giờ bị hủy hoại theo thời gian?
 
  V.v… và v.v…  
 
Tất cả đều có câu trả lời trong quyển Huyền Ký và quyển Giáo Lý Đạo Phật Thiền Tông học này, kể cả 3 câu:
 
  - Hoa nở để rồi tàn!
 
  - Trăng tròn để rồi khuyết!
 
  - Con người sinh ra để rồi chết đi!
 
Như vậy có phải Đức Phật đã để lại một Tinh Hoa cho nhân loại hay không?
 
Quý vị hãy dùng trí tuệ bát nhã của một người học Phật chân chánh để suy ngẫm lại xem. 
 
Thành thật cảm ơn quý vị đã chú ý lắng nghe.
 
Trân trọng kính chào.